U não được chẩn đoán như thế nào?

Ví dụ bác sỹ khám và đề nghị bạn giữ hai tay trên không, nếu một tay của bạn rơi nhanh hơn tay kia hoặc không giơ được một tay. Như vậy là một tay của bạn bị liệt nhẹ và bác sỹ sẽ cho bạn chụp cắt lớp vi tính sọ não hoặc chụp cộng hưởng từ sọ não.


Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu thế nào là u não? Trong thực tế hiện nay tại các bệnh viện, người ta sử dụng danh từ u não để chỉ các loại u trong sọ như sau: u tế bào não, u màng não, u tuyến yên, u tuyến tùng, u sọ hầu, u dây thần kinh (đoạn nằm trong sọ), u di căn từ nơi khác tới não… Trong số đó, bốn loại u não hay gặp nhất là u tế bào thần kinh, u màng não, u tuyến yên và u di căn não. Bốn loại u đó chiếm khoảng 90% tổng số các loại u não.

Để chẩn đoán u não, các bác sỹ phải khám bệnh nhân, làm một số xét nghiệm, chụp cắt lớp vi tính sọ não và chụp cộng hưởng từ sọ não. Dựa vào thời gian tiến triển của khối u và dựa vào những đặc tính của khối u trên hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não, hình ảnh cộng hưởng từ sọ não, người ta có thể đưa ra chẩn đoán sơ bộ đó là loại u gì, ác tính hay lành tính. Nhưng để kết luận chính xác đó là u gì, lành tính hay không, các bác sỹ phải lấy một mảnh khối u não và đưa vào kính hiển vi soi và kết luận (kết quả giải phẫu bệnh).

Khám thần kinh: Thày thuốc sẽ hỏi bạn, khám và thực hiện nhiều bài test để đánh giá xem hệ thần kinh của bạn có bình thường hay không. Nếu hệ thần kinh của bạn không bình thường hay có vấn đề gì đó bất ổn, bác sỹ sẽ cho bạn chụp cắt lớp vi tính sọ não hay chụp cộng hưởng từ sọ não. Ví dụ bác sỹ khám và đề nghị bạn giữ hai tay trên không, nếu một tay của bạn rơi nhanh hơn tay kia hoặc không giơ được một tay. Như vậy là một tay của bạn bị liệt nhẹ và bác sỹ sẽ cho bạn chụp cắt lớp vi tính sọ não hoặc chụp cộng hưởng từ sọ não.

Chụp cắt lớp vi tính bắt đầu được sử dụng tại Việt Nam từ năm 1991 và máu chụp cộng hưởng từ bắt đầu sử dụng lần đầu tiên năm 1997. Đây là hai phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại và rất thông dụng tại Việt nam hiện nay. Hầu hết các bệnh viện đa khoa khu vực, bệnh viện tỉnh, bệnh viện chuyên khoa và bệnh viện trung ương được trang bị những phương tiện này. Hai phương pháp này chụp ảnh phía trong của não bộ não theo cách gần giống như máy ảnh kỹ thuật số chụp ảnh vậy. Tuy nhiên, thày thuốc có thể sẽ tiêm một chất tương phản (contrast agent) vào mạch máu để phân biệt rõ hơn sự khác nhau giữa tổ chức não lành và khối u não. Chất tương phản này được tiêm vào tĩnh mạch và sau đó đi tới não (một số người bị dị ứng với chất tương phản sẽ không được sử tiêm chất này khi chụp). Phần lớn khối u não ngấm chất tương phản này nhiều hơn tổ chức não lành. Một số ít loại u não như u biểu bì không ngấm chất tương phản do không có mạch máu. Hai phương pháp chẩn đoán này không những được sử dụng để chụp sọ não mà còn chụp hầu hết các cơ quan trong cơ thể như tim, phổi, thận, gan…

Chụp cắt lớp vi tính (CT-Computed Tomography): người ta sử dụng máy chiếu tia X phối hợp với hệ thống máy tính chuyên dụng để tạo nên máy chụp cắt lớp vi tính. Trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính sọ não, người ta thấy được hình ảnh xương sọ, nhu mô não, các thùy não, dịch não tủy và mạch máu trong sọ. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính cho phép chẩn đoán u xương sọ, u não, hình ảnh ứ nước trong não, chảy máu trong não, phù não. Hiện nay có nhiều loại máy chụp cắt lớp vi tính, và những thế hệ máy mới có tính năng vượt trội hơn các thế hệ máy cũ.

Chụp cộng hưởng từ (IRM-Magnetic Resonance Imaging): người ta sử dụng máy phát ra từ trường và hệ thống máy tính chuyên dụng để chụp ảnh cấu trúc bên trong của não. Như vậy, máy chụp cắt lớp vi tính hoàn toàn khác với máy chụp cộng hưởng từ. Hình ảnh não bộ trên phim chụp cộng hưởng từ là hình ảnh cắt theo không gian ba chiều (ảnh cắt đứng ngang, ảnh cắt đứng dọc và ảnh cắt ngang). Trên hình ảnh cộng hưởng từ, tín hiệu của tổ chức não lành khác với tín hiệu của tổ chức u não.

PET Scan (Positron Emission Tomography): Nếu hình ảnh cắt lớp vi tính và hình ảnh cộng hưởng từ là hình ảnh tĩnh của não bộ thì hình ảnh PET Scan là hình ảnh động của não bộ. PET Scan mô tả hình ảnh hoạt động của não bằng cách đo lượng đường (glucose) mà tổ chức não hay khối u tiêu thụ. Bệnh nhân thường được tiêm một chất đánh dấu phóng xạ. Sau đó, người ta chụp ảnh hoạt động của não. Với phương pháp hiện đại này, người ta có thể phân biệt được tổ chức não lành, khối u não, sẹo sau mổ não, tế bào hoại tử…

Sinh thiết: sinh thiết là một phẫu thuật đơn giản với mục đích lấy một mảnh nhỏ tổ chức từ khối u não. Mảnh tổ chức này sẽ được xử lý qua các công đoạn nhuộm, tẩm, đúc, cắt… và đưa soi dưới kính hiển vi. Bác sỹ chuyên về tế bào học, giải phẫu bệnh sẽ nghiên cứu hình ảnh tế bào của khối u để chẩn đoán đó là khối u gì, u lành tính hay u ác tính. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, người ta có thể thực hiện sinh thiết dưới sự hướng dẫn của hệ thống định vị (stereotaxy) hoặc hệ thống thần kinh dẫn đường (neuronavigation). Với hệ thống này, bác sỹ chỉ cần rạch ra 2cm, khoan một lỗ nhỏ trên sọ và đưa kim đầu tù nhỏ vào trong khối u để lấy mảnh u não.

Như vậy, để chẩn đoán chính xác khối u não người ta có thể dựa vào nhiều thành tựu công nghệ tiên tiến và chẩn đoán xác định bản chất u não lành hay ác tính. Tất cả những phương pháp này hiện nay đã được thực hiện thường xuyên tại Việt Nam với độ chính xác cao như các trung tâm lớn trên thế giới.

 PGS-TS-BS Đồng Văn Hệ

  P.Trưởng khoa Phẫu thuật Thần kinh

Bệnh viện Việt Đức

                                               Dongvanhe2010@gmail.com